Thứ Ba, 23 tháng 9, 2014

Thuật ngữ chuyên ngành "quản lý nguồn lực thông tin (trong) thư viện"

Bài viết này trước hết là nhằm tổng hợp một số thông tin mà tôi đang đọc, liên quan đến đề tài "quản lý nguồn lực thông tin trong thư viện" - cụ thể ở đây là thư viện của các trường đại học. Tôi đưa lên đây để lưu cho chính mình và chia sẻ với những ai cần.

Trước hết, xin giới thiệu một số thuật ngữ liên quan đến "quản lý nguồn lực thông tin trong thư viện" (library information resources management).

Tiếng Việt


1. http://www.lrc.ctu.edu.vn/bantin7/index.php/thuat-ngu-thu-vien/30-thuat-ngu-thu-vien/55-mt-s-thut-ng-v-thong-tin-va-th-vin?tmpl=component&print=1&page=

 Broad classification
(cf Close classification = phân loại chi tiết)
Phân loại tổng quát Sự phân loại chỉ dựa trên các phân loại chính của hệ thống sắp xếp và chỉ một hoặc hai phân loại phụ.
Catalogue Mục lục (Thư mục) Một danh sách của tài liệu thư viện bao gồm một phần, toàn phần sưu tập của thư viện, được sắp xếp theo một kế hoạch xác định.
Cataloging-in-Publication Mô tả tiền xuất bản Một chương trình biên mục do một cơ quan có thẩm quyền cung cấp cho nhà xuất bản gói thông tin, nhằm mục đích phát hành thư mục cùng với gói thông tin.
Digital preservation Bảo quản tài liệu số Là hình thức lưu trữ tài liệu số hay các tài liệu đã được số hóa nhằm đảm bảo tuổi thọ của tài liệu và duy trì khả năng truy cập liên tục của tài liệu.
Metadata Siêu dữ liệu Mô tả có mã hoá một gói thông tin. Mục đích của siêu dữ liệu nhằm cung cấp một tầng dữ liệu ở đó có thể chọn chính xác gói thông tin cần tìm.
Monograph Chuyên khảo Một tài liệu không phải là một ấn phẩm liên tục. Một đặc khảo có thể là một phần của một tác phẩm chưa hoàn tất, hay đã hoàn tất, được đánh số phần riêng biệt.
Reference Tham chiếu 1. Tham chiếu "xem" là một hướng dẫn từ một hình thức của một tên gọi hay một nhan đề tới một tên gọi hay nhan đề khác.
2. Tham chiếu "xem thêm" là một hướng dẫn từ một điểm truy dụng này tới một điểm truy dụng khác.
Pseudonym Bút hiệu, bút danh Một tên được tác giả dùng, để viết tác phẩm của mình.
Predominant name Tên thường dùng Một tên hay một hình thức của tên tác giả hay hội đoàn xuất hiện thường xuyên nhất trên các tác phẩm của tác giả hay tác phẩm của hội đoàn.

 2. http://flis.huc.edu.vn/?page_id=894
Một số thuật ngữ tiếng Anh chuyên ngành Thông tin Thư viện

Access point  (Điểm truy dụng/ truy cập): Từ/cụm từ sử dụng để có được thông tin từ một công cụ truy xuất hay một  hệ thống sắp xếp. Khi làm thư mục hay chỉ mục, “access point” là tên, tựa đề, và chủ đề cụ thể được người biên mục hay chỉ mục chọn tạo ra để lưu trữ siêu dữ liệu, cho phép truy xuất dữ liệu đó.
Added entry: Tiêu đề mô tả bổ sung. Một đặc điểm giúp cho việc xác định tài liệu nhưng không phải là điểm truy cập chính; là một phiên bản rút gọn của biểu ghi thư mục trong mục lục thẻ hoặc mục lục quyển
Alphabetical catalog: Mục lục xếp theo trật tự chữ cái.
Author entry: Tiêu đề cho tác giả. Điểm truy cập đến biểu ghi bắt đầu bằng tên của người tạo ra gói thông tin.
Author/title access point: Điểm truy cập tác giả và tiêu đề trong quá trình xây dựng một điểm truy cập.
Authority control: Kiểm soát tính nhất quán. Kết quả của quá trình duy trì tính nhất quán các hình thức tiêu đề và cho thấy mối liên hệ giữa các tiêu đề để tìm các cụm từ hay đi với nhau.
Authority file: Hồ sơ tiêu đề chuẩn. tập hợp các biểu ghi chuẩn nhằm kiểm soát tính nhất quán
Authority record: Biểu ghi có kiểm soát
Authority work: Công tác biên mục (tạo ra các điểm truy cập) đối với tên, tựa đề hay chủ đề; riêng đối với biên mục tên và nhan đề, quá trình này bao gồm xác định tất cả các tên hay tựa đề và liên kết các tên/tựa đề không được chọn với tên/tựa đề được chọn làm điểm truy dụng. Đôi khi quá trình này cũng bao gồm liên kết tên và tựa đề với nhau. Đối với chủ đề, quá trình này bao gồm xác định và duy trì liên kết giữa các từ ngữ như từ đồng nghĩa, từ rộng, từ hẹp, và từ có liên quan.
Bibliographic control: Kiểm soát thư mục. Quá trình mô tả các mục trong danh mục và cho phép truy cập tên, tựa đề và chủ đề theo những mô tả đó. Tạo ra nhữhng hồ sơ lưu trữ đại diện cho mục thông tin thực. Quá trình này còn yêu cầu đặt biểu ghi thay thế vào hệ thống truy xuất để chỉ đến gói thông tin thực sự.
Bibliographic data: Dữ liệu thư mục. Thông tin được thu thập trong quá trình tạo lưu trữ danh mục.
Bibliographic database: Cơ sở dữ liệu thư mục. Tập hợp lưu trữ thư mục dưới dạng một cơ sở dữ liệu (xem thêm phần khác).
Bibliographic network: Mạng thư tịch. Hệ thống sử dụng chung một cơ sở dữ liệu thư mục; muốn truy dụng thì các thành viên phải trả tiền và các thành viên của hệ thống có thể đóng góp lưu trữ mới hay tải lưu trữ sẵn có.
Bibliographic record: Biểu ghi thư mục. Mô tả của một gói thông tin; những từ  dùng để mô tả gói thông tin về sau được gọi là “surrogate record” và “metadata record”
Bibliography: Thư mục. Bảng liệt kê tất cả các gói thông tin; Thư mục tổng hợp danh sách các nguồn liệu theo một chủ đề, tác giả, hay thời gian, v.v.
Book catalog: Mục lục quyển. Thư mục/ mục lục trong đó biểu ghi thay thế được in thành các trang sách và được đóng thành sách.
Broad classification: Phân loại tổng quát. Sự phân loại chỉ dựa trên các loại chính của hệ thống sắp xếp và  chỉ một hoặc hai phân loại phụ.
Broader term: Thuật ngữ khái quát hơn. Từ ngữ đang được xem xét một cấp độ trong một danh mục nơi mà các từ chỉ khái niệm chủ đề được xem xét trong mối quan hệ thang bậc.
Browsing: Xem lướt. (xem lướt qua các chủ đề, tên hay nhan đề)
Call number: Mã số xếp giá. Số của tài liệu, thường bao gồm số phân loại (mô tả nội dung tài liệu hay một gói thông tin) và số của sách.
Card catalog: Mục lục thẻ. Các biểu ghi được in trên thẻ và đựng trong ngăn kéo chuyên dụng.
Catalog: Thư mục/mục lục. Công cụ truy cập các tài liệu trong các bộ sưu tập thông tin ví dụ như các thực thể như sách, băng video và đĩa CD trong thư viện; tác phẩm nghệ thuật trong bảo tàng; trang web trên mạng.
Cataloging: Công tác biên mục. Nếu làm trong các tổ chức phi lợi nhuận thì gọi là cataloging, nếu làm vì mục đích thương mại thì gọi là indexing.
Chief source of information: Nguồn thông tin chính. Dùng tạo ra phần mô tả của một biểu ghi thay thế như trang bìa sách, hình nhan đề phim hoạt hình hay nhãn băng đĩa.
CIP (Cataloging-in-Publication): Mô tả tiền xuất bản. Một chương trình biên mục do một cơ quan có thẩm quyền cung cấp cho nhà xuất bản gói thông tin, nhằm mục đích phát hành thư mục cùng với gói thông tin. Thông thường cụm từ này chỉ công tác biên mục do Thư viện Quốc hội thực hiện với các nhà xuất bản.
Classification: Sự phân loại.
Classification notation: Mã số phân loại bao gồm số, chữ, ký hiệu.
Classification schedule: Khung phân loại. Danh mục liệt kê trật tự thang bậc phân loại cùng với ký kiệu cho mỗi mức độ phân loại.
Classified catalog: Mục lục  sắp xếp biểu ghi thay thếtheo trật tự số phân loại .
Close classification: Phân loại chi tiết. Cách phân loại thành các loại rất nhỏ có thể áp dụng cho những chủ đề rất cụ thể. Xem Broad classification.
Closed stacks: Kho đóng. khu vực lưu trữ chỉ nhân viên thư viện mới được phép đi vào, kho lưu trữ hay khu vực tương tự.
Continuing resource: Nguồn tin liên tục. Tài liệu được ấn hành nhiều phần, có khi thành các phần riêng biệt và có khi thông tin mới được tích hợp vào thông tin cũ. Xem thêm Intergrated resource; Serial.
Controlled vocabulary: Từ khóa có kiểm soát. Danh sách hay cơ sở dữ liệu về các thuật ngữ chủ đề trong đó các từ/cụm từ có chung khái niệm được nhóm lại với nhau. Thông thường chỉ một từ/ cụm từ được dùng trong mô tả tài liệu để truy cập; các từ khác được tham chiếu đến từ/cụm từ được chọn, có xác định mối quan hệ giữa những từ đó (ví dụ từ rộng hơn, hẹp hơn, có liên quan, v.v.). Có thể bao gồm ghi chú phạm vi của từ và trật tự sắp xếp.
Cutter number (số Cutter): Cách phân loại theo bảng chữ cái tất cả các tài liệu có cùng ký hiệu phân loại; được đặt tên theo Charles Ammi Cutter, người tạo ra cách phân loại này. Xem thêm Call number.
Database: Cơ sở dữ liệu.
Dewey Decimal Classification (DDC): Cách phân loại do Mevil Dewey tạo ra vào năm 1876 trong đó toàn bộ tri thức được chia thành 10 loại. 10 loại này lại được chia làm 10 loại nữa, và tiếp tục như thế. Cách phân loại này sử dụng 10 con số của hệ thống số Ả Rập. Tuy DDC mang tính liệt kê nhưng những ấn bản sau này có bổ sung nhiều ghi chú nhỏ.
Dublin Core (viết tắt cho Dublin Core Metadata Element Set): một bộ yếu tố được thống nhất trên khắp thế giới cho phép người tạo tài liệu điện tử “điền vào” để tạo lưu trữ siêu dữ liệu cho tài liệu.
ISBD (International Standard Bibliographic Description): Tiêu chuẩn thiết kế đầu những năm 1970 để làm dễ dàng việc trao đổi lưu trữ thư mục quốc tế. Theo đó các yếu tố dùng trong mô tả được chuẩn hoá, sắp theo thứ tự, và tách bạch bằng một hệ thống ký hiệu cụ thể.
ISBN:  Chỉ số chuẩn cho sách Số được quốc tế công nhận là con sô duy nhất cho một chuyên khảo nào đó.
ISSN (International Standard Serial Number): Chỉ số chuẩn quốc tế cho một ấn bản liên tục.
Main entry (record): Tiêu để mô tả chính; Thẻ mô tả chính: Biểu ghi thay thế có chứa toàn bộ thông tin lưu trữ do người tạo thư mục cung cấp.
MARC (Machine-Readable Cataloging) Tiêu chuẩn qui định các mã số đứng trước và xác định các thông tin chi tiết của một lưu trữ thư mục, cho phép máy “đọc” được lưu trữ đó và vì vậy hiển thị nó theo một cách nào đó giúp cho người sử dụng đọc được.
Metadata: Mô tả có mã hoá một gói thông tin (ví dụ: lưu trữ AACR2 với mã MARC, lưu trữ Dublinn Core, lưu trữ GILS, v.v.). Mục đích của siêu dữ liệu nhằm cung cấp một tầng dữ hiệu ở đó có thể chọn gói thông tin nào ta muốn xem hay tìm kiếm và khỏi phải tìm rất nhiều toàn văn không có liên quan.
Online Catalogue – Thư mục trực tuyến: Thư mục trong đó hồ sơ lưu được mã hóa để hiển thị trên máy tính và được lưu trữ trong bộ nhớ của máy hoặc đĩa CD; việc sắp xếp trong phạm vi bộ nhớ hoặc trên đĩa là không thích hợp với người sử dụng bởi vì nó được cấu tạo để trả lời một câu hỏi.
Subject entry – thẻ chủ đề: công cụ truy cập thông qua chủ đề của ấn phẩm .
Subject heading: Tiêu đề chủ đề : Từ/ cụm từ khái niệm chủ đề trong danh mục đề mục chủ đề và được dùng trong biểu ghi thư mục
Title entry: Thẻ nhan đề : một công cụ tra cứu nơi có thể tìm được biểu ghi thay thế thông qua  tên một gói thông tin.
Union catalog: Mục lục liên hợp. Thư mục thể hiện những tài liệu ở nhiều thư viện hay kho tư liệu.

Tiếng Anh
Dưới đây là một số danh mục thuật ngữ bằng tiếng Anh và một vài từ mà tôi đã chuyển ngữ sang tiếng Việt (cũng mong được góp ý thêm).
1. http://en.wikipedia.org/wiki/Glossary_of_library_and_information_science
2. http://sirls.arizona.edu/resources/glossary.html 
2. http://www.library.umass.edu/wikis/acp/doku.php?id=glossary

Từ tài liệu số 1
Archive = kho lưu trữ
A place in which historical documents and other records are preserved. Usually operated by large organizations, they may or may not be open to the public. The University of Toronto, for example has an archive that requires a five story building and contains several climate controlled vaults. A virtual archive is similar except the documents have no physical presence and seldom have historical value.

Cross reference database = cơ sở dữ liệu tham chiếu chéo
 A collection of records that have one or more fields that reference other related records. These connections (for example between "marketing" and "promotion") make browsing very productive and allow related-items searches.

Reference Service = dịch vụ tham khảo, dịch vụ tra cứu
The personal assistance provided to the library users in finding information. All the functions performed by a trained librarian employed in the reference section of a library to meet the information needs of patrons (in person, by telephone, or electronically), including but not limited to answering substantive questions, instructing users in the selection and use of appropriate tools and techniques for finding information, conducting searches on behalf of the patron, directing users to the location of library resources, assisting in the evaluation of information, referring patrons to resources outside the library when appropriate, etc. are regarded as the services provided under library reference services.

-----
Từ tài liệu số 2
Shelf ready = (tài liệu) bản cứng, bản sẵn sàng lên kệ
Physical materials purchased by the Library from specific vendors that are delivered fully processed and ready to be place directly on the shelves. Currently, the Library has a shelf-ready contract with YBP for print monographs. The books are delivered from YBP with barcodes (already linked to item records), call number labels, security strips, book plates, and ownership stamps. MARC records are also delivered to the Library from OCLC via PromptCat [link to PC], by means of an arrangement YBP maintains with OCLC. Promptcat records receive a brief review according to the FastCat instructions and then books are sent straight to the shelves.

Tạm như thế, sẽ quay trở lại chủ đề này sau các bạn nhé.

Ghi chú: Quy ước trong blog này
Những gì màu xanh là chép từ nơi khác, màu đen là do tôi tự viết ra.

Chủ Nhật, 21 tháng 9, 2014

Từ vựng tiếng Anh cho ngành tài chính - ngân hàng

Một số tài liệu trôi nổi trên mạng. Tôi sắp xếp theo thứ tự ngược, tức là tài liệu nào mới tìm được thì nằm trên cùng, để các bạn lâu lâu trở lại có thể dễ dàng cập nhật những tài liệu mới được thêm vào.

6. Glossary of Accounting, Finance, and Economic Terms: http://www.twu.edu/downloads/som/Glossary_accounting_finance_and_eco_terms.pdf

5. Glossary of Financial Terms. Từ điển giải thích đơn ngữ tiếng Anh 146 trang: http://www.sapient.com/content/dam/sapient/sapientglobalmarkets/pdf/thought-leadership/glossary-2013-final.pdf

4. Dictionary of Financial and Business Terms. Từ điển giải thích đơn ngữ tiếng Anh 155 trang: http://iclass.iuea.ac.ug/intranet/E-books/ACCOUNTING%20&%20FINANCE/Finance%20Management%20Accounting%20-%20Dictionary%20Of%20Financial%20And%20Business%20Terms.pdf

3. Từ điển thuật ngữ doanh thương - ngân hàng: http://aroma.vn/tienganh/Dictionary-Of-Financial-And-Business-Terms-aroma.vn.pdf

2. Tự học từ vựng tài chính - ngân hàng: http://aroma.vn/tienganh/Check-your-vocabulary-for-banking-and-finance-aroma.vn.pdf

1. 200 từ vựng tiếng Anh ngân hàng (song ngữ): http://news.bankcardvn.com/200-tu-vung-tieng-anh-chuyen-nganh-ngan-hang-11300.html

Dịch thuật như một công cụ học tập (Tim Bowen, One Stop English)

Dẫn: Bài viết này là của một chuyên gia về giảng dạy tiếng Anh (người Anh), nêu quan điểm về việc sử dụng dịch thuật như một công cụ học tập mà các giáo viên ngoại ngữ có thể sử dụng để nâng cao hiệu quả giảng dạy của mình. Cần lưu ý rằng đây là một quan điểm khá mới mẻ so với quan điểm hiện đang "thống trị" trong giới, đặc biệt là đối với những người ủng hộ cách tiếp cận "giao tiếp" (communicative approach) trong giảng dạy ngoại ngữ. 

Nói vắn tắt, cách tiếp cận giao tiếp gần như cấm sử dụng tiếng mẹ đẻ trong lớp học vì điều đó làm cản trở việc "giao tiếp" trong ngôn ngữ đích (tức là ngoại ngữ mà ta đang học). Tuy nhiên, theo tác giả của bài viết này thì có nhiều lý do khiến ta có thể tận dụng kỹ năng dịch thuật trong lớp học ngoại ngữ để làm cho việc giảng dạy thú vị hơn và có hiệu quả cao hơn.

Xin mời các bạn. À, ai thích dịch thì có thể dịch bài này và gửi vào comment để chúng ta cùng bình luận và học các bạn nhé.

Nguồn: http://www.onestopenglish.com/support/methodology/teaching-approaches/teaching-approaches-translation-as-a-language-learning-tool/146504.article
--------  

Teaching approaches: translation as a language learning tool



Level: Starter/beginner, Elementary, Pre-intermediate, Intermediate, Upper intermediate, Advanced Type: Reference material



An article discussing the benefits of translation as a language learning tool.


Translation has not always enjoyed a good press [1]. Indeed, at the height of what we can call the "communicative" period, it was actively discouraged by many practitioners and regarded as a hindrance to second language fluency rather than an aid to language learning. In the brave new world of the Communicative Approach, translation (and the use of the mother tongue in general) came to be regarded as a relic of the past, a symbol of the bad old days of Grammar Translation, an echo of those long forgotten secondary school lessons when paragraphs of English prose were translated into Latin for no apparent purpose other than as an intellectual exercise. 

Such a view, however, takes no account of individual learning styles. Some learners appear to need to be able to relate lexis and structures in the target language to equivalents in their mother tongue. This also gives them the opportunity to compare similarities and contrast differences. Put simply, they need the reassurance of their mother tongue in order to make sense of the way the target language operates. In the case of teachers, an ability to translate into the mother tongue of the learners can offer a convenient and efficient way out of a tricky situation – why bother to spend ten minutes trying to explain the concept behind a particular utterance when a simple translation can achieve the same goal in seconds? For example, it is quite difficult to get across the meaning of useful, everyday expressions such as "As far as …. is concerned, …" or "On the other hand …. ". Learning target language equivalents to key phrases like these in the mother tongue can be an extremely effective way to build up a good working vocabulary. Translation can also be extremely creative. It is not only the translation of words from one language to another but the translation of ideas, concepts and images.

Some of the resistance to translation amongst certain teachers might stem from the kind of exercise they were required to do when language learners themselves. Dull, overlong, uncommunicative texts that were difficult to translate into the target language did little for motivation. But why should translation involve whole texts? Surely it is more relevant (and practical) to start with short, communicative pieces of language. When teaching grammatical structures, it can be very useful to check with your learners that they have fully grasped the concept of the language taught by asking them to translate into their mother tongue. As a checking stage, this could usefully come at the end of the lesson. The structure used in "If I had worked harder, I would have passed the exam", for example, is relatively complex and a quick translation check can avoid misunderstandings.

An illuminating exercise is to divide your class into two groups, give each group a short text (3-4 sentences) to translate into the target language. Then get the groups to exchange papers and ask them to translate the other group’s translation back into the mother tongue. The results, when compared, can be extremely interesting and often amusing!

Finally, in case any language teachers are worried that they might be replaced by computers, here is a translation of a well-known English proverb, translated into German and then back into English by a computer programme: "If the away cat, the mice plays".

* When the cat’s away the mice will play.
----------------------
Từ vựng trong bài:
1. enjoy/get a good press
Xem định nghĩa ở đây:
get a bad press/get a good press             phrase   V inflects 
(http://dictionary.reverso.net/english-cobuild/get%20a%20bad%20press/get%20a%20good%20press)
If someone or something gets a bad press, they are criticized, especially in the newspapers, on television, or on radio. If they get a good press, they are praised. 

Bí quyết "dịch để học", hay "the encyclopedic approach to translation"

Thật không ngờ, trang "Dịch để học" của tôi mới mở ra được đúng một ngày, mà đã nhận được sự ủng hộ rộng rãi của mọi người. Tối hôm qua, tôi nhận được câu hỏi của một bạn trẻ mà tôi nghĩ là một kinh nghiệm khá phổ biến đối với nhiều bạn tốt nghiệp ngành ngoại ngữ và sau đó vào làm việc ở các lĩnh vực khác nhau. Nói vắn tắt, bạn trẻ ấy là một sinh viên mới tốt nghiệp đại học ngành ngoại ngữ, giờ đang làm việc tại một cơ quan của nước ngoài với công việc (hẳn là) liên quan chủ yếu đến biên/phiên dịch giữa hai ngôn ngữ nhưng không liên quan gì đến ngành được đào tạo, và đang gặp nhiều khó khăn trong công việc.

Khó khăn của các bạn ấy là: chuyên môn được đào tạo của các bạn (chỉ) là ngoại ngữ - tức các vấn đề về lý thuyết ngôn ngữ, lý thuyết tiếp thu ngôn ngữ, phương pháp giảng dạy ngoại ngữ, rồi các vấn đề về giao tiếp và văn hóa giao tiếp, các vấn đề đất nước học như lịch sử, địa lý, kinh tế vv của đất nước vốn là nơi xuất phát của ngôn ngữ mà các bạn ấy chọn để học. Nói chung là có thể cùng ngôn ngữ và  mối quan tâm với nhóm ngành nhân văn (nhưng không hề chuyên sâu), có thể trao đổi sâu được với các bạn bè trong ngành sư phạm ngoại ngữ hoặc ngôn ngữ học, nhưng ngoài ra thì sẽ khó khăn. Cũng đúng thôi, vì có ai mà cái gì cũng biết đâu!

Nhưng dường như yêu cầu của mọi người đối với dân học ngoại ngữ thì khác. Trừ phi những người học ngoại ngữ chọn làm nghề giảng dạy ngoại ngữ, hoặc nghiên cứu những lĩnh vực có liên quan trực tiếp đến những gì đã được học, còn thì khi bước vào bất cứ lĩnh vực nào khác các bạn ấy đều bị nhìn như một kẻ ngu dốt. "Không biết gì, chỉ biết nói tiếng Anh, nhưng trong đầu lại không có gì để nói" - đó là một nhận xét phổ biến mà tôi đã nghe nhiều lần khi người ta nói về "dân ngoại ngữ" của chúng tôi. Đến nỗi các anh chị ở ĐH Ngoại ngữ mà tôi quen cách đây hơn 20 năm lúc ấy đã tự nhận bọn học ngoại ngữ như chúng tôi là "dân ngại nghĩ", như thế cho nó đúng với  hình ảnh mà mọi người vẫn nhìn về mình, hu hu ....

Dài dòng thế đủ rồi. Đây là câu hỏi của người bạn nhỏ mà tôi không biết mặt vì chỉ quen qua facebook, xin đăng nguyên văn, chỉ bỏ bớt những chi tiết về nhân thân thôi:

Em chào cô Phương Anh, em là XXX, em biết cô cũng khá lâu rồi (chỉ là biết qua facebook thôi). Hiện tại em đang làm ở XXX, nơi mà mới nghe ai cũng nghĩ em tiếng Anh pro lắm, thực tế thì tiếng Anh em yếu vô cùng. Có lẽ đúng như cô nói thời buổi này mà không học được ngoại ngữ thì chỉ biết trách mình thôi. Em ra trường được 1 năm rồi nhưng mới đi làm được 5 tháng, bữa nay tự nhiên sếp giao cho em 3 cuốn sách anh Văn bảo về nhà dịch nâng cao trình độ, thế này thì chết em rồi, nhìn 3 cuốn sách mà nghẹn ngào, mấy tuần trăng rồi chưa có tuần nào thiếu nước mắt. Nay biết được cô mới ra mắt trang “Dịch để học” em rất mong cô chia sẻ kinh nghiệm dịch thuật để em vượt qua được ải này. Thật thì đọc tiêu đề em còn chưa hiểu nói chi đến dịch hả cô, 1 cuốn là “Building Commitment to Reform through Strategic Communication: The five key Decisions” của Worldbank, 1 cuốn là “Bilateral and Regional Trade Agreement: Case Studies” của Cambridge, 1 cuốn thì em đưa cho bạn gái dịch dùm. Mong cô chia sẻ kinh nghiệm giúp em với.

Vâng, một trường hợp "kinh điển"! Và lời khuyên của tôi chỉ vỏn vẹn có mấy từ này thôi: Hãy đọc thêm những kiến thức cơ bản về nội dung muốn dịch, và quan trọng hơn là đọc cả bằng tiếng Việt nữa (đọc trước, và đọc song song trong khi dịch)!

Tại sao thế ư? Rất đơn giản: Lĩnh vực chuyên môn nào cũng có hệ thống thuật ngữ của nó mà mình cần hiểu để dịch cho đúng, và nếu đó là một lĩnh vực hoàn toàn xa lạ với bạn thì bạn sẽ không thể nào dịch ra được, đơn giản là vì không có ngôn ngữ phù hợp để diễn đạt.

Tất nhiên, khuyên như thế thì vô cùng. Đọc về một lĩnh vực hoàn toàn mới thì biết đọc cho đến bao giờ cho đủ để có thể dịch đây (I heard you groan!) Đúng, nhưng hượm đã. Hãy nhìn lại phần sau của cái tựa entry này: "the encyclopedic approach to translation" - cách tiếp cận bách khoa từ điển đối với việc dịch thuật". Cụm từ ấy do tôi nghĩ ra hồi tôi còn dạy dịch cho sinh viên, vì các em thường rất lúng túng khi tiếp cận với một văn bản thuộc lĩnh vực xa lạ đối với mình. Nói vắn tắt, cách tiếp cận/phương pháp này đòi hỏi sinh viên phải sử dụng từ điển bách khoa thay vì từ điển ngôn ngữ để hiểu (một cách tổng quát) những vấn đề mà mình mới tiếp cận lần đầu, đồng thời làm quen với một số thuật ngữ căn bản trong lĩnh vực đó, trước khi có thể thực hiện bản dịch. Đơn giản chỉ có vậy thôi!

Để minh họa cho phương pháp "bách khoa từ điển" này, tôi lấy luôn cuốn sách mà người bạn trẻ đã nêu trong bài, cuốn “Building Commitment to Reform through Strategic Communication: The five key Decisions” của Worldbank. Trong hai cuốn được nêu ở trên thì cuốn này có lẽ ... dễ nuốt hơn một chút đối với dân ngoại ngữ, vì nó nói về giao tiếp/ truyền thông. Tuy nhiên nó vẫn khá xa lạ vì cuốn sách này là dành cho những người làm việc trong các tổ chức quốc tế có liên quan đến chính sách của nhà nước (đây là đặc điểm công việc của WB), nên nó đòi hỏi nhiều hiểu biết rộng hơn rất nhiều so với những gì mà sinh viên ngoại ngữ đã được học tại trường.

Tôi lên tìm cuốn sách này, và tìm thấy đoạn giới thiệu sau:

This workbook has been the product of many years of work with senior government officials in developing countries around the world, with World Bank colleagues, as well as with partners in donor agencies and international development organizations. he management decision tool offered to readers in this volume has been discussed, tested, applied, and adapted by many practitioners. By offering examples from sectors and regions, we hope to demonstrate how this decision tool can pro
vide reform managers and their teams with a systematic and practical approach that is grounded in communication and behavioral science theory.

Tóm lại, tựa cuốn sách lẫn lời giới thiệu ở trên cho thấy để dịch tài liệu này thì người đọc phải hiểu về các lý thuyết liên quan, mà trước hết là: lý thuyết truyền thông (hay lý thuyết giao tiếp - communication theory), và nếu cần thì cả khoa học hành vi (behavioral science). Ngoài ra, do đây là tài liệu dành cho những người quản lý (quản trị), nên tôi nghĩ có lẽ cũng cần đọc thêm về quản trị truyền thông (communication management) nữa.

Vậy thì, vào thời đại internet ngày nay, tại sao tôi không tìm thêm nhỉ? Đây:

http://en.wikipedia.org/wiki/Communication_theory
http://en.wikipedia.org/wiki/Communications_management 
http://en.wikipedia.org/wiki/Strategic_communication
(Riêng đường dẫn cuối cùng này còn có 1 đường dẫn đến cuốn Strategic Communication: A Primer giúp ta hiểu nhanh về strategic communication).

Tiếc là tiếng Việt không có nhiều, nhưng chúng ta hoàn toàn có thể mua một vài cuốn sách dành cho sinh viên ngành truyền thông/quản trị truyền thông (sách dễ thôi, loại nhập môn) để đọc. Bảo đảm sẽ làm cho công việc dễ dàng hơn rất nhiều.

Và một "bí quyết" phụ, nhưng đôi khi trở thành bí quyết chính: Khi nào bí, thì hãy hỏi! Hãy xin thì sẽ được, và hãy gõ thì sẽ mở ra, các bạn ạ.

Well, hy vọng là bài viết này có ích cho các bạn. Và hẹn các bạn trong entry sau với những vấn đề khác nữa.
------------
Bổ sung
Xin chép lên đây một nhận xét của anh Tú Đoàn, một bạn đọc của blog này, nhằm góp ý cho người bạn trẻ của chúng ta.

Vâng, đúng như cô PA nhận định: trong việc dịch thuật thì kiến thức về nội dung muốn dịch rất cần thiết, đôi khi còn quan trọng hơn cả khả năng ngoại ngữ.

TIếp theo ý kiến Cô PA về việc dịch quyển sách thứ nhất, xin có vài ý kiến về việc dịch quyển thứ hai: “Bilateral and Regional Trade Agreement: Case Studies” của Cambridge.

Qua tựa sách (case studies), có lẽ tác giả sẽ phân tích một số hiệp định thương mại song phương và khu vực. Như vậy kiến thức cần thiết để đọc và dịch quyển này là về Kinh tế- Thương mại, có thể cả về lịch sử chính trị nữa ( chẳng hạn nếu nói về Hiệp định thương mai. song phương Việt Mỹ ( US-Vietnam Bilateral Trade Agreement (BTA), người ta hay nhắc đén quan hệ “thù- bạn” giữa hai nước). Tài liệu về vấn đề này có rất nhiều, cả sách báo và trên mạng; đây đang là câu chuyện thời sự của VN: gần như ngày nào các phương tiện truyền thông ( VTV, báo in ..) cũng nói về Cộng đồng Kinh tế ASEAN, đàm phán TPP…. Nếu không có nhiều thời giờ, có thể vào trang web của Tòa đại sứ Mỹ để đọc các bài về, và cả toàn văn US-Vietnam Bilateral Trade Agreement (BTA), tiếng Anh và tiếng Việt.

Có một cái tạm gọi là cái “bẫy” cần tránh khi dịch: gặp một từ quen thuộc liền vội dịch theo hiểu biết / vốn từ vựng của mình, có thể và thường là ra một từ khác với từ mà ngành chuyên môn dùng. Xin nêu hai thí dụ, một tiếng Anh, và một tiếng Việt: (1) trong các BTA, thế nào cũng gặp từ này “intellectual property”, nếu dịch là tài sản trí tuệ/ tri thức thì không sai, nhưng từ được sử dụng chính thức là “ sở hữu trí tuệ”. ( 2) các doanh nghiệp có “ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh”; nếu dịch là “ Report on the results of business activity” thì đúng ngữ pháp và từ vựng, nhưng khác xa các từ mà các công ty Anh , Mỹ dùng. ( muốn biết là gì thì theo cách hướng dẫn trong bài của cô PA).

Thứ Sáu, 19 tháng 9, 2014

Kiến thức căn bản cho thành viên Hội đồng quản trị ngân hàng (bản dịch song ngữ)

Dẫn:
Blog "Dịch để học" của tôi mới ra đời hôm qua đã nhận được sự hưởng ứng khá nồng nhiệt của bạn bè và đồng nghiệp, cả những người đã biết ở ngoài đời và những người chỉ mới quen nhau qua facebook. Rất may mắn, trong số những người mà tôi chỉ quen trên facebook có anh Nguyễn Hữu Thư, một người hoạt động trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, rất tận tâm và kiên trì trong việc cung cấp kiến thức và kỹ năng cho thế hệ trẻ qua các bài viết và bản dịch của mình. Bạn nào đang học ngành tài chính - ngân hàng mà có sử dụng facebook thì nên tìm và làm quen với thầy Nguyễn Hữu Thư (nick: Nguyen Huu Thu), chắc chắn sẽ học hỏi được rất nhiều điều với thầy Thư đấy.

Còn hôm nay thì tôi xin giời thiệu một tài liệu quý trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng đã được nhóm của thầy Thư tổ chức dịch và trình bày song ngữ. Tài liệu ấy có tựa mà tôi đã sử dụng làm tựa của entry này, đó là "Kiến thức căn bản cho thành viên Hội đồng quản trị ngân hàng". Các bạn có thể tải về từ link có nêu trong bài giới thiệu dưới đây của thầy Thư để về nhà nghiền ngẫm. Và cũng vậy, nếu các bạn có thắc mắc gì về việc dịch tiếng Anh, thì đừng ngần ngại gì mà không gửi câu hỏi đến blog này nhé (gửi qua comment). Tôi sẽ cố gắng trả lời, hoặc nếu không trả lời được thì chắc chắn sẽ gửi câu hỏi đến thầy Thư để nhờ giúp đỡ.

Mong rằng tài liệu có ích cho các bạn. Còn lại, xin các bạn đọc bài giới thiệu tài liệu dưới đây của thầy Nguyễn Hữu Thư (phần chữ màu xanh).
------------------------
Từ những chia sẻ chân tình của TS Vu Thi Phuong Anh về việc DỊCH ĐỂ HỌC : HÃY DỊCH ĐỂ HỌC - xin chia sẻ một tài liệu ...TẬP DỊCH ĐỂ HỌC : BASICS FOR BANK DIRECTORS ( CẨM NANG DÀNH CHO CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG) -

MỤC LỤC


1/ Giới thiệu bản dịch

2/ Lời nói đầu


3/ Giới thiệu sự hình thành tài liệu


4/ Chương 1 : Thưa quý vị, đây là ngân hàng


5/ Chương 2 : Khung luật pháp và quy định quản lý và điều tiết hoạt động ngân hàng ( Giám sát hoạt động ngân hàng theo các quy định pháp lý) 



6/ Chương 3 : Tính an toàn và vững chắc của ngân hàng ( CAMELS)

• Vốn chủ sở hữu

• Chất lượng tài sản có
• Quản lý điều hành
• Thu nhập
• Tính thanh khoản
• Tính nhạy cảm với rủi ro thị trường 


GIỚI THIỆU BẢN DỊCH
Cùng với đất nước đang tiến hành hội nhập quốc tế một cách mạnh mẽ, ngành ngân hàng Việt Nam cũng đang trải qua nhiều thay đổi tích cực về vốn, mô hình tổ chức, quản trị điều hành, công nghệ, cơ sở mạng lưới hoạt động và nhất là nguồn nhân lực để có thể đạt được những thành quả cao trong hoạt động kinh doanh khi ngày càng phải đối mặt với nhiều thách thức, cạnh tranh gay gắt trong bối cảnh hoạt động hiện nay và trong những năm sắp tới.

Với tinh thần chủ động và tư thế đón đầu, nhiều ngân hàng đã quan tâm tổ chức các khóa đào tạo, huấn luyện trong và ngoài ngân hàng để làm thế nào có được nguồn nhân lực thông thạo chuyên môn nghiệp vụ ngân hàng, có năng lực cao trong tổ chức quản trị điều hành, được trang bị những kiến thức cần thiết cho hoạt động kinh doanh và tinh thông ngoại ngữ .


Trong việc tổ chức các khóa huấn luyện đào tạo nội bộ tại các ngân hàng, điều kiện cần và đủ là giảng viên và học viên cần có những giáo trình, tài liệu mang tính chuyên nghiệp, thực tiễn và cập nhật về các nghiệp vụ của một ngân hàng hiện đại như tổ chức quản trị điều hành, quản trị rủi ro, hoạt động tín dụng, nghiệp vụ ngân hàng quốc tế (tài trợ thương mại, kinh doanh ngoại tệ..), ngân hàng điện tử, chăm sóc khách hàng, các nghiệp vụ của giao dịch viên ngân hàng, kế toán hiện đại….


Các tài liệu này được phổ biến rộng rãi tại các nước phát triển và do Ngân hàng Trung ương hay Hiệp hội ngân hàng tại các nước này xuất bản, nhằm đào tạo và truyền bá thêm kiến thức chuyên sâu về nghiệp vụ ngân hàng và quản trị điều hành cho tất cả nhân viên ngân hàng ở các cấp khác nhau có mối quan tâm sâu sắc về lĩnh vực ngân hàng.


Thực tế hiện nay tại Việt Nam, không có nhiều những tài liệu như vậy được soạn thảo bằng tiếng Việt để đáp ứng nhu cầu đào tạo và tự đào tạo cho các nhân viên của ngân hàng, và nếu có cũng ít nhiều mang tính hàn lâm mà mục đích chỉ phù hợp với việc đào tạo sinh viên tại các trường Đại học .


Trong khi đó, nhân viên ngân hàng muốn tự nâng cao nghề nghiệp và cập nhật tri thức, thì phải tự lực tìm tài liệu nghiên cứu. Một khó khăn của vấn đề này là hầu hết các tài liệu được phổ biến rộng rãi trên mạng Internet đều bằng tiếng Anh nên phần nào làm hạn chế sự tiếp thu của người học.


Với mong muốn chia sẻ chút thiện ý với cộng đồng, nhân dịp có được trong tay một tài liệu mới được Ngân hàng Dự trữ Liên bang tại Thành phố Kansas (Hoa kỳ) phổ biến trong tháng 1/ 2010 là “BASICS FOR BANK DIRECTORS” ( KIẾN THỨC CƠ BẢN CHO THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG), chúng tôi mạnh dạn gửi bản dịch cho các bạn đồng nghiệp để vừa nâng cao được trình độ am hiểu và sử dụng tiếng Anh chuyên ngành tài chính – ngân hàng, vừa nâng cao được kỹ năng biên dịch Anh – Việt, đồng thời học hỏi thêm được những kinh nghiệm thực tiễn qua việc phân tích một mô hình đánh giá hoạt động của một ngân hàng dựa trên các yếu tố CAMELS :



• Capital (Vốn tự có)
• Asset quality (Chất lượng tài sản có)
• Management (Quản lý điều hành)
• Earnings (Thu nhập)

• Liquidity (Thanh khoản)


• Sensitivity to market risk (Tính nhạy cảm đối với rủi ro thị trường)



Đây là nội dung chủ yếu của tập tài liệu này, được xuất bản lần thứ năm sau khi nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng Hoa Kỳ nói riêng trải qua cơn khủng hoảng trầm trọng trong năm 2008 .

Do trình độ biên dịch còn hạn chế và một số thuật ngữ dùng trong tài liệu này không thể dịch một cách chuẩn xác vì chưa được sử dụng phổ biến tại Việt nam, tài liệu dịch này chắc chắn còn nhiều thiếu sót nhưng nhóm biên dịch chúng tôi cũng xin được chia sẻ những kiến thức cập nhật và thực tiễn này đến các bạn đồng nghiệp để tham khảo thêm.



Trong bản dịch này, nhóm biên dịch chỉ tập trung dịch các phần chính là : Giới thiệu tổng quát, Chương 1, Chương 2 và Chương 3; không dịch Chương 4, Chương 5 và Chương 6 do đề cập đến những đặc thù của khung luật pháp về quản lý và điều tiết hoạt động ngân hàng tại Hoa Kỳ.

Với ước muốn ngày càng được mở mang thêm kiến thức nghiệp vụ ngân hàng và nâng cao được trình độ sử dụng tiếng Anh chuyên ngành hầu có thể đóng góp một phần nhỏ vào thành quả chung của hoạt động ngân hàng tại Việt Nam, chúng tôi xin được gửi đến các bạn đồng nghiệp bản dịch này để tham khảo và phổ biến nội bộ.

Trân trọng.

Nhóm biên dịch


Nguyễn Hà Đại

Nguyễn Huỳnh Yến
Lý Thị Hiền
Nguyễn Thị Hồng

Biên tập bản dịch

Nguyễn Hữu Thư


Tháng 8/2010

DOWNLOAD BẢN GỐC TIẾNG ANH :

http://www.mediafire.com/download/9dk24pbabfy09ke/BASICS_FOR_BANK_DIRECTORS.pdf

DOWNLOAD BẢN DỊCH ( SONG NGỮ VIỆT - ANH)


http://www.mediafire.com/download/vghcdt2fsahdgl9/BASICS+FOR+BANK+DIRECTORS+-TIENG+ANH+VA+TIENG+VIET.doc
Thân mến

Nguyễn Hữu Thư


Lời thách đố của GS Jonathan London

Nếu bạn chưa biết GS Jonathan London là ai, thì còn chờ gì nữa, hãy "gúc"! Còn tôi thì tất nhiên là biết, nhưng sẽ không nói ra, vì như thế là làm hại bạn mất rồi. Bởi, kỹ năng tìm kiếm và sử dụng thông tin (gọi chung là kỹ năng thông tin) là một kỹ năng thiết yếu của thời đại thông tin, và nếu bạn chưa có kỹ năng này thì đây chính là cơ hội để rèn luyện. (Còn nếu bạn đã bỏ công ra "gúc" cả ngày mà vẫn không tìm được thì hãy quay lại đây với câu hỏi của bạn, tôi sẽ cố trả lời vậy! Nhưng tôi không tin là có ai cần tôi giúp.)

OK, vậy là xong phần giới thiệu về GS JL rồi. Giờ là lời thách đố của ông. Tối hôm nay 19/9, chẳng biết đọc thấy cái gì trên báo chí về chuyện Hồng Kông, Trung Quốc mà ông GS đã thốt ra một tràng những lời lẽ ... rất lạ lùng và hoàn toàn không phù hợp với phong cách của một vị giáo sư như ông. Mà không chỉ thốt ra những lời lẽ lạ lùng ấy, ông còn ... thách xem có ai dịch được không, nếu dịch đúng sẽ được 10 điểm!

Chà chà, ông GS đưa ra lời thách về dịch vào đúng ngày mà tôi mở trang "dịch để học", thế có may không cơ chứ? Nào, xin mời các bạn!
These shameless boot-licking, brown-nosing Hong Kong elites have their head shoved so far up Beijing's rear-end they have no clue how utterly pathetic they are. Public opinion in Hong Kong has clearly rejected Beijing's plans for Hong Kong. These people are a DISGRACE! (ai dịch được 10 điểm).
-----------
Bonus cho ngày khai trương blog mới:

Nghĩa của từ brown-nose, theo trang Yahoo Answers (ở đây: https://answers.yahoo.com/question/index?qid=20080110150604AABLOLA)

It means that you're so far up a person's butt that your nose is brown. Pretty much a butt kisser.
(Nôm na trong tiếng Việt là "bưng bô", "bợ đít", "liếm đít", đại khái thế).


Cũng vậy, gửi câu trả lời vào comment các bạn nhé! Và lời giải đáp sẽ là ngày mai.

Bạn có dịch được không? (1)

Không phải cái gì cũng có thể dịch. Cho dù bạn có giỏi cả hai ngôn ngữ đến mấy, cũng mặc!

Bạn không tin ư? Xin mời bạn dịch hai mẩu đối thoại trong hình dưới đây.

Xin nói thêm: Chúng là những truyện cười, và là trò chơi chữ (tiếng Anh là "pun"). Kiểu như từ "lợi" trong câu ca dao nổi tiếng: "Lợi thì có lợi nhưng răng chẳng còn" ấy mà.

Nào, giờ thì xin mời các bạn tham gia cuộc đố vui KHÔNG có thưởng này nhé. Câu trả lời xin gửi vào comment. Và câu trả lời sẽ được đưa lên vào ngày mai.



Enjoy các bạn nhé!

(À, viết từ enjoy xong tôi lại nhớ đến một bí quyết khác của học ngoại ngữ, hoặc đúng hơn là học bất cứ cái gì, đó là: phải có niềm vui. Phải thấy thích thú thì mới học được. Và đó cũng là lý do tại sao ngày nay học sinh phổ thông lại sợ môn tiếng Anh đến thế: Các em phải học như một sự tra tấn! Thương các em quá đi  thôi!)